100% TÍNH THẢO DƯỢC CỦA TINH DẦU TRÀM TỪ CINEOLE?

Cineole (hoặc Cineol) có trong tinh dầu tràm Linh Ứng là “kẻ thù không đội trời chung” với COVID 19, vi rút Corona gây bệnh trên đường hô hấp. Vì sao vậy? 

Xin chào các bạn, chắc hẳn là ai cũng biết bênh do vi rút Corona gây đại dịch COVID-19 nói riêng, vi rút nói chung không có thuốc đặc trị đúng không nào? Chúng ta 💢 không thể biết vấn nạn toàn cầu Coronavirus sẽ kéo dài đến lúc nào, NHƯNG có một điều CHẮC CHẮN rằng chúng ta không phải gặp ‘mẹ thành công’ trong trận chiến này. Chúng ta đoàn kết bảo vệ chính mình và cộng đồng chống lại loài SARS-COVI-2. Và, chúng tôi, những sản phẩm mang “tinh chất tràm xanh: tốt, lành, hạnh, khoẻ” tự tin là 💂‍♂️ vệ sĩ 24/7 bảo vệ sức khoẻ của bạn và gia đình bạn trước sự tấn công của vi rút Corona.

Vậy thì khả năng phòng và trị các bệnh đường hô hấp do vi rút Corona của dầu tràm Tiên Ông và tinh dầu tràm Linh Ứng đến từ đâu nhỉ?

Một thành phần hoá học chủ yếu chiếm hơn 50% trong dầu tràm huế có tên là Cineole (tên hoá học là 1,8 Cineole). Cineole là gì? Cineole có đặc tính ra sao? Cineole có vai trò tiêu diệt vi rút gây viêm đường hô hấp, cụ thể là Coronavirus như thế nào? Nào, cùng nhau tìm hiểu dưới đây nhé!  

💥 Đề tài nghiên cứu chứng minh: Hiệu quả của Cineole trên những bệnh nhân viêm phế quản cấp tính của Juergen Fischer và cộng sự tiến hành thực hiện và công bố vào năm 2013. Công trình nghiên cứu về tính hữ dụng của Cineole này được tài trợ bởi Viện Y Dược Cassella, Cologne, Đức. 

1️⃣ Tính cấp thiết của việc nghiên cứu Cineole có trong tinh dầu tràm thiên nhiên

Viêm phế quản cấp tính là một trong những lý do phổ biến nhất khiến bệnh nhân thường xuyên phải đến gặp bác sĩ hoặc cấp cứu vì gây tắc nghẽn khí quản dẫn đến khó thở, thở gấp. Thêm vào đó, bệnh nhân luôn trong tình trạng mệt mỏi, đau đầu, thiếu sức sống vì thiếu oxy lên não 🤢🤧😰  

Bệnh viêm phế quản cấp tính phát triển dần dần bắt đầu từ quá trình cảm lạnh thông thường với triệu chứng chủ yếu là ho khan hoặc ho có đờm. Thực tế cho thấy hơn 50% toa thuốc của bệnh nhân viêm phế quản cấp tính tại bệnh viện được kê đơn là thuốc kháng sinh, mặc dù nguyên nhân chủ yếu của bệnh này là do nhiễm vi rút, một trong số nguyên nhân là do Coronavirus (COVID 19).

Các đánh giá về hiệu quả của kháng sinh dựa trên bằng chứng và phân tích tổng hợp các thử nghiệm ngẫu nhiên, có nhóm đối chứng (tương tự đối với thí nghiệm trên Cineole) kết luận rằng điều trị bằng liệu trình kháng sinh không mang lại lợi ích (lâm sàng) ở người lớn bị viêm phế quản cấp theo 7 công trình nghiên cứu trích nguồn từ 1 đến 7 trong mục Nguồn tham khảo cuối bài [số 1 đến 7].

Chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả trong việc chữa bệnh viêm đường hô hấp là giảm tần suất các cơn ho. Và thuốc chống ho chỉ dành cho các trường hợp ngoại lệ cụ thể. Ở đây không kết hợp dùng thuốc chống ho trong khi điều trị bởi vì 02 lý do: 

  • Một là điều trị theo nguyên nhân, không trị theo triệu chứng là sử dụng thuốc ho làm giảm ho.
  • Hai là những cơn ho là phản ứng của cơ thể nhằm tống dịch chứa mầm bệnh ra ngoài nên bản chất ho không phải là xấu.

Hoạt chất Cineole trong dầu tràm nguyên chất có đặc tính tiêu đờm, giãn phế quản và chống viêm đường hô hấp và làm giảm số lần xuất hiện những đợt khó thở cấp tính ở bệnh nhân tắc nghẽn phổi mãn tính (COPD), cũng như cải thiện các triệu chứng ở bệnh nhân bị hen suyễn và viêm xoang [số 8 đến10]. Nhờ vào những công dụng tích cực trên bệnh đường hô hấp, do đó Juergen Fischer đưa ra giả thuyết rằng bệnh viêm phế quản cấp tính cũng sẽ được cải thiện khi điều trị theo hướng 🍃🌿🌱 thảo mộc thiên nhiên.

2️⃣ Phương pháp thực hiện Cineole của tinh dầu tràm hữu cơ trên người lớn (nghiên cứu lâm sàng)

Có hai nhóm bệnh nhân:

Nhóm 01: Bệnh nhân viêm phế quản cấp tính được điều trị bằng Cineole trong dầu tràm nguyên chất.

Nhóm 02 gọi là nhóm đối chứng: Bệnh nhân viêm phế quản cấp tính được điều trị với giả dược (thay Cineole bằng một loại thuốc bổ không phải thuốc đặc trị bệnh). 

👨‍⚕️Nhóm theo dõi gồm 3 bác sĩ đa khoa, 2 bác sĩ chuyên khoa khí học, 1 bác sĩ nội khoa và 1 bác sĩ tai mũi họng. Theo Tuyên bố Helsinki, nghiên cứu điều trị bệnh viêm nhiễm đường hô hấp bằng Cineole, đã được phê duyệt bởi các cơ quan có thẩm quyền và các ủy ban đạo đức thích hợp, chịu trách nhiệm về 7 trung tâm tham gia. Hơn nữa, tất cả các bệnh nhân đã kí đơn 🤝 đồng ý bằng văn bản trước khi họ tham gia cuộc nghiên cứu.

Tổng số 242 bệnh nhân bị viêm phế quản cấp được xác nhận đã được chọn ngẫu nhiên để tham gia vào nghiên cứu. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào một trong hai nhóm điều trị. Sau đó, bệnh nhân được kê đơn với liều lượng phù hợp trong thời gian liên tục 10 ngày. Nhóm 01 được cấp viên nang, mỗi viên nang chứa 200 mg Cineole, không có thành phần hoạt tính nào khác.

Liều lượng cho mỗi người là 1 viên nang, uống 3 lần mỗi ngày, tổng liều 600 mg Cineole mỗi ngày. Nhóm đối chứng nhận được một liều viên nang giả dược tương tự nhóm được điều trị bằng Cineole trong tinh dầu tràm. Để tránh bệnh nhân nhận ra mùi của Cineole, tất cả bệnh nhân được hướng dẫn uống viên nang với nước khoáng, 30’ trước bữa ăn. Tất cả các viên nang, có chứa hoạt chất Cineole hoặc giả dược, đều giống nhau về mặt cảm quan và được niêm phong trong các vỉ thuốc.

3️⃣ Thiết kế nghiên cứu cụ thể cho việc điều trị bằng Cineole trong tinh chất dầu tràm tự nhiên

Các điều kiện tiêu chuẩn của người tham gia cuộc nghiên cứu:

  • Tình trạng bệnh: Bệnh nhân viêm phế quản cấp được chuẩn đoán và xác nhận theo tiêu chuẩn của Wenzel [7]. Chỉ chọn bệnh nhân mang bệnh viêm phế quản cấp tính, những bệnh nhân có tình trạng bệnh lý nghiêm trọng khác mà có ảnh hưởng liên quan đến viêm phế quản cấp tính thì bị loại trừ.
  • Độ tuổi: Giới hạn ở bệnh nhân từ 18 – 70 tuổi.
  • Thời gian bệnh: từ ngày được chẩn đoán bị viêm phế quản cấp tính không quá 7️⃣ ngày. 
  • Tổng điểm Viêm phế quản: Tất cả những người tham gia đủ điều kiện đều có điểm từ 7️⃣ trở lên. 

Các thông tin chi tiết về bệnh nhân sau đây được ghi lại: chiều cao; cân nặng; tuổi; thời gian kể từ lần đầu tiên chẩn đoán các triệu chứng hen suyễn; tiền sử về dị ứng; những căn bệnh đồng thời; những toa thuốc được kê đơn; hiệu quả của liệu trình điều trị hiện tại. Liên tục trong 10 ngày nghiên cứu, kết quả điều trị bằng Cineole có trong tinh dầu tràm thiên nhiên được ghi nhận hằng ngày, ghi nhận cả các tác dụng phụ nếu và việc tuân thủ nghiêm ngặt kế hoạch điều trị, cũng như xử lý những biến chứng có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu.

🍄 Bảng 1: Ghi nhận đặc điểm của các bệnh nhân tham gia chương trình điều trị bệnh viêm phế quản bằng Cineole, trong tinh dầu tràm tự nhiên

Đặc điểm Nhóm 01 Nhóm đối chứng
Số lượng mẫu: 121 Số lượng mẫu: 121
Tuổi (giá trị trung bình) 43.9 41
Số nam / Số nữ 54/67 50/71
Cân nặng (kg) 76.3 77.8
Chiều cao (cm) 172.4 (9.1) 171.7 (9.0)
Số ngày kể từ khi phát hiện bị viêm phế quản cấp tính 4 3.9
Tổng điểm viêm phế quản 9.7 10
Số lượng người hút thuốc / người nghiện thuốc lá 35 32

4️⃣ Kết quả điều trị bằng Cineole của dầu tràm nguyên chất mang lại

🍄 Bảng 2: Các tiêu chí tính điểm viêm phế quản để cho ra kết quả của việc điều trị bệnh viêm phế quản cấp bằng Cineole, trong dầu tràm nguyên chất

Tiêu chí đánh giá mỗi ngày

Thang điểm

Khó thở 0 = không khó thở
1 = khó thở nhẹ
2 = khó thở vừa
3 = khó thở nặng
4 = khó thở không chịu nổi
Lượng dịch tiết (đờm mũi, họng) 0 = không tiết
1 = <2 ml: rất ít
2 = <5 ml: ít
3 = <10 ml: trung bình
4 => 10 ml: nhiều
Tần suất các cơn ho 0 = không có cơn ho nào
1 = một cơn ho
2 = 2 – 3 cơn ho
3 = 4–5 cơn ho
4 = 4–9 cơn ho
5 = 15 cơn ho: thường xuyên đến nỗi không chịu nổi
Đau ngực khi ho 0 = không
1 = ít
2 = trung bình
3 = đau dữ dội
4 = đau không thể chịu nổi
Nhịp tim 0 = bình thường
1 = bất thường nhẹ
2 = bất thường
3 = bất thường đáng kể
4 = rất bất thường
Suy giảm chức năng phổi 0 = không
1 = nhẹ (90 – 99%)
2 = trung bình (80 – 90%)
3 = đáng kể (70 – 79%)
4 = nặng (ít hơn 70%)
Số lần xuất hiện và mức độ khó thở khi nghỉ ngơi 0 = không xảy ra vấn đề gì
1 = có xảy ra vấn đề nhưng không thường xuyên
2 = thường xuyên xảy ra
3 = thường xuyên xảy ra và biểu hiện nặng
Sự khó thở suốt một tuần theo dõi 0 = thở không tốt một ngày nào 
1 = thở tốt chỉ trong 1 – 2 ngày
2 = thở tốt trong 3 – 4 ngày
3 = 90% các ngày trong tuần thở tốt
4 = mỗi ngày đều thở tốt
Ho và thời điểm của các cơn ho 0 = không ho
1 = ho vào buổi sáng mức độ nhẹ nên bệnh nhân không than phiền
2 = ho vào buổi sáng mức độ trung bình, bệnh nhân có than phiền
3 = ho vào buổi sáng và ho vài tiếng trong cùng ngày
4 = ho vào buổi sáng và cả ngày mức độ nghiêm trọng
5 = ho liên tục trong cả ngày
6 = ho liên tục trong cả ngày, và cơn ho có liên quan mật thiết đến bệnh viêm phế quản cấp tính

Sau 4️⃣ ngày điều trị liên tục, điều đáng chú ý là nhóm bệnh nhân được điều trị bằng Cineole cho thấy sự cải thiện đáng kể về tổng điểm của bệnh viêm phế quản so với nhóm dùng giả dược về tần suất các cơn ho. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của các phép đo kết quả riêng lẻ được thống kê có ý nghĩa bởi tần suất các cơn ho sau 4️⃣ ngày (p = 0,0001). Các chỉ tiêu còn lại như lượng chất nhầy bị tống ra, nhịp tim, đau ngực khi ho, vv không cho số liệu có ý nghĩa về mặt thống kê.

*Chú thích: trong sác xuất thống kê, P là robability value (viết tắt là P-value) có ý nghĩa kiểm định giả thuyết đưa ra đó có tin cậy được hay không. Nếu P cao hơn 5% (P > 0,05), thì nhà nghiên cứu chỉ có thể phát biểu rằng chưa có bằng chứng đầy đủ để bác bỏ giả thuyết đảo, và điều này không có nghĩa rằng giả thuyết đảo là đúng, là sự thật. Nói một cách khác, thiếu bằng chứng không có nghĩa là không có bằng chứng.

Trong thực tế, trị số P có một ảnh hưởng rất lớn đến số phận của một bài báo khoa học. Nhiều tập san và nhà khoa học xem một nghiên cứu khoa học với trị số P cao hơn 0.05 (5%) là một “kết quả tiêu cực” (“negative result”) và bài báo có thể bị từ chối công bố. Chính vì thế mà đối với đại đa số nhà khoa học, con số “P < 0.05” đã trở thành một cái “giấy thông hành” để công bố kết quả nghiên cứu. Nếu kết quả với P < 0.05, bài báo có cơ may xuất hiện trên một tập san nào đó và tác giả có thể sẽ nổi tiếng; nếu kết quả P > 0.05, số phận bài báo và công trình nghiên cứu có cơ may đi vào lãng quên!

Mình lấy ví dụ cụ thể để các bạn dễ hiểu: Nhóm bệnh nhân được sử dụng Cineole nhằm điều trị bệnh trên đường hô hấp có cải thiện đáng kể so với nhóm đối chứng dùng giả dược với p = 0,0383 => p < 0,05. Như vậy chúng ta có được kết luận xuôi chiều là Cineole có tác động chữa bệnh viêm phế quản cấp tính. Giả thuyết đảo là “Cineole không có tác động chữa bệnh viêm phế quản cấp” không tồn tại. Hay nói cách khác là có đủ bằng chứng thống kê để kết luận rằng bệnh viêm phế quản cấp tính được điều trị hiệu quả bởi Cineole. 

Vì sao con số P rất cần thiết trong thống kê, đặc biệt là đối với công trình nghiên cứu y khoa về Cineole trong tinh dầu tràm?

Là bởi vì tổng số mẫu là hơn 200 người, số lượng mẫu này không lớn và những người được chọn cũng vô cùng ngẫu nhiên, nên khi đưa ra một kết luận áp dụng cho cộng đồng về công dụng có ích của Cineole trong tinh dầu tràm hữu cơ nhất thiết phải có ý nghĩa về mặt thống kê thì mới đưa ra kết luận đáng tin cậy.

5️⃣ Thảo luận những vấn đề xung quanh liệu trình điều trị viêm phế quản cấp bằng Cineol, có trong dầu tràm huế

▶️ Phản ứng phụ.

Một cuộc kiểm tra về độ an toàn đã được thực hiện trên tất cả các bệnh nhân, những người đã được sử dụng Cineole và giả dược. 

Trong nhóm giả dược, người ta cho rằng hai trong số các tác dụng ngoại ý muốn được ghi nhận. Tác dụng phụ đầu tiên là nhiễm trùng đường tiêu hóa thì không liên quan đến hoạt tính của giả dược trong nghiên cứu. Trong khi tác dụng phụ thứ hai được cho là có liên quan đến sự không dung nạp thuốc giả dược là chứng ợ nóng và loét miệng. 

Nhóm điều trị với Cineole của tinh dầu tràm huế, 3 tác dụng ngoài ý muốn được báo cáo là viêm tai giữa và viêm xoang, bỏng mắt, nhức đầu, nhưng không liên quan đến hoạt chất Cineole. 

Cần lưu ý rằng sự khác biệt về triệu chứng lâm sàng giữa hai nhóm điều trị không có ý nghĩa thống kê (p > 0.05). Kiểm tra an toàn của nghiên cứu và tất cả các bệnh nhân tham gia đã nhấn mạnh không sự khác biệt nào có ý nghĩa giữa hai nhóm điều trị (p > 0.05).

▶️ Nghiên cứu về liệu trình kháng sinh được kê toa cho bệnh viêm phế quản cấp tính.

Một số thử nghiệm lâm sàng có nhóm đối chứng trên bệnh viêm phế quản cấp đã được thực hiện nhằm mục đích điều tra hiệu quả kháng sinh. Kết quả cho thấy thuốc kháng sinh nên được cân nhắc kĩ lưỡng khi kê đơn và chỉ sử dụng trong trường hợp các loại thuốc khác không cải thiện được tình trạng bệnh.

Theo Juergen Fischer, viêm phế quản cấp tính là bệnh với triệu chứng lâm sàng đặc trưng (hơn 90% bệnh nhân có biểu hiện này) là cơn ho kéo dài hơn 5 ngày. 50% bệnh nhân sẽ có triệu chứng thường gặp thứ hai là dịch tiết có đờm (mủ) chứa các tế bào của khí quản bị bong tróc và những tế bào của cơ thể đã chiến đấu với mầm bệnh bị chết. Hầu hết các trường hợp viêm phế quản cấp tính là do nhiễm vi-rút, trong đó tác nhân gây bệnh chính là vi rút Corona, vi rút cúm A và B, vi rút Parainfluenza, vi rút hợp bào hô hấp, vi rút Adenovirus và vi rút Rhinovirus.

Hiểu rõ nguyên nhân của bệnh viêm đường hô hấp là do vi rút do vậy kháng sinh không là lựa chọn điều trị đầu tiên. Việc điều trị nên tập trung vào các liệu pháp có tác động tích cực đến tình trạng bệnh và làm giảm các triệu chứng của viêm phế quản cấp tính, mà không bị tác dụng phụ nặng nề.

▶️ Thời điểm khảo sát và đánh giá hiệu quả của Cineole, chất có hàm lượng cao nhất trong tinh dầu tràm huế.

Một điểm quan trọng trong nghiên cứu hoạt chất Cineole đối với bệnh viêm nhiễm đường hô hấp là thiết lập các thời điểm chính xác mà tại đó, các thông số về sự tiến triển của sự hồi phục cơ thể được đo lường ⏰

Để chứng minh cách lựa chọn thời điểm, chúng ta phải xem xét bối cảnh thời gian chẩn đoán viêm phế quản cấp tính ngay tại thời điểm đó. Đây là một mối quan tâm lớn trong thực tế, bởi vì chỉ có một số ít bệnh nhân sẽ đến gặp bác sĩ của họ ngay lập tức sau khi họ có các triệu chứng đầu tiên của viêm phế quản cấp tính. Do đó, chúng tôi chỉ chọn các bệnh nhân tham gia nghiên cứu trên cơ sở các triệu chứng của họ không kéo dài quá 7️⃣ ngày. 

Trong thời gian điều trị 4️⃣ ngày, ✨hiệu quả của Cineole so với giả dược đã được chứng minh. Trong nghiên cứu của Juergen Fischer, cũng như trong các cuộc điều tra khác, Juergen Fischer có thể chỉ ra rõ ràng rằng số lần ho là thông số phù hợp nhất được chọn để chứng minh sự tiến triển của bệnh. Thông số của các tiêu chí khác, trong tổng điểm viêm phế quản cấp tính, dựa trên các triệu chứng liên quan của viêm phế quản cấp tính, không cho thấy sự cải thiện đáng kể so với tần suất của các cơn ho.

6️⃣ Kết luận về tác động của Cineole có trong tinh dầu tràm tự nhiên

Những phát hiện của Juergen Fischer bổ sung cho những kết quả trước đây của Cineole nhờ vào tác dụng chống ho cũng được dựa trên việc cải thiện tình trạng viêm và nhanh loại bỏ dịch nhầy ở những bệnh nhân bị viêm phế quản cấp tính. Tác dụng của Cineole, thành phần trong tinh dầu trám huế đối với điều trị viêm phế quản cấp được đo lường rõ ràng và được chứng minh sau thời gian điều trị chỉ 4 ngày. 

💥Kết luận: Cineole có tác động tích cực và giảm đáng kể tần suất ho sau 4 ngày. 

Theo Juergen Fischer, kết luận của nghiên cứu này có tác động lớn đến nền kinh tế xã hội. Vì sao ông lại phát biểu như vậy? 

Bởi vì kết quả nghiên cứu của Juergen Fischer phải được xem xét trong bối cảnh thực tế là căn bệnh viêm phế quản cấp tính gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của khoảng 5% người lớn hàng năm. Đây là căn bệnh trong 10 bệnh thường gặp nhất ở bệnh nhân ngoại trú (không nằm viện). Mối liên quan về kinh tế – xã hội càng được củng cố bởi chỉ trong khoảng thời gian ngắn, Cineole trong tinh dầu tràm hữu cơ giúp giảm số lần ho và mức độ ho mà không cần điều trị bằng thuốc kháng sinh, đặc biệt là không gây tác dụng phụ. Hơn nữa, kết luận này có tác động tích cực đến góc nhìn của cộng đồng về thảo mộc thiên nhiên nói chung, Cineole trong tinh dầu tràm nguyên chất nói riêng.

Sau khi đọc xong bài viết này, các bạn cảm thấy thế nào? Có phải là cảm giác như mở ra 🌅 một chân trời mới không? Một chân trời của xu thế hướng về 🌵🦌 thiên nhiên, những gì tự nhiên nhất. Thật ra, có bao giờ bạn tự hỏi vì sao những toa thuốc chỉ gồm các loại 💊 thuốc tây mà không phải là dược phẩm từ 🌳 thảo mộc, thảo dược chưa? Là bởi vì các loại thảo dược đến từ thiên nhiên trong đó có dầu tràm nguyên chất đòi hỏi 🕰 thời gian, sử dụng lâu dài mới có thể thấy được những tính lành mà chúng đem lại. 

Thói quen sử dụng dầu tràm huế thiên nhiên hằng ngày vô tình tạo nên những liệu trình lành mạnh trong cuộc sống như liệu pháp hương thơm, xoa bóp; thẩm thấu tinh chất hữu cơ mỗi ngày sẽ làm cơ thể hấp thu được “tinh chất tràm xanh: tốt, lành, hạnh, khoẻ” có trong tinh dầu tràm Linh Ứng, dầu tràm Tiên Ông và cao tràm Tiên Ông nhằm giúp cơ thể ngày một tăng sức đề kháng hơn và tránh được các bệnh về đường hô hấp như dịch bệnh COVID-19.

Chúng mình biết rằng các bạn có rất nhiều sự lựa chọn về dầu tràm huế, cảm ơn các bạn đã tin tưởng và chọn sản phẩm của công ty SHP. Mãi yêu 💖

Nguồn: 

1. Braman S. Chronic cough Due to acute bronchitis: ACCP evidence-based clinical practice guidelines. Chest. 2006; 129:95–103. doi: 10.1378/chest.129.1.95.

2. Gonzales R, Bartlett JG, Besser RE, Cooper RJ. et al.Principles of appropriate antibiotic Use for treatment of uncomplicated acute bronchitis: background. Ann Intern Med. 2001; 134:521–529. doi: 10.7326/0003-4819-134-6-200103200-00021. 

3. Gonzales R, Sande MA. Uncomplicated acute bronchitis. Ann Intern Med. 2000; 133:981–991. doi: 10.7326/0003-4819-133-12-200012190-00014. 

4. Hopstaken RM, Coenen S, Butler CC. et al.Prognostic factors and clinical outcome in acute lower respiratory tract infections: a prospective study in general practice. Fam Pract. 2006; 23(5):512–519. doi: 10.1093/fampra/cml023. 

5. Linder JA, Sim I. Antibiotic treatment of acute bronchitis in smokers. J Gen Intern Med. 2002;17(3):230–234. doi: 10.1046/j.1525-1497.2002.10405.x. 

6. MacFarlane J, Holmes W, Gard P. et al.Prospective study of the incidence, aetiology and outcome of adult lower respiratory tract illness in the community. Thorax. 2001; 56:109–114. doi: 10.1136/thorax.56.2.109. 

7. Wenzel RP, Fowler AA. Acute bronchitis. N Engl J Med. 2006;355:2125–2130. doi: 10.1056/NEJMcp061493. 

8. Kehrl W, Sonnemann U, Dethlefsen U. Therapy of acute nonpurulent rhinosinusitis with cineole: results of a double-blind, randomized, placebo-controlled trial. Laryngoscope. 2004; 114:738–742. doi: 10.1097/00005537-200404000-00027. 

9. Worth H, Schacher C, Dethlefsen U. Concomitant therapy with cineole (eucalyptole) reduces exacerbations in COPD: a placebo-controlled double-blind trial. Respir Res. 2009; 10:69. doi: 10.1186/1465-9921-10-69. 

10. Worth H, Dethlefsen U. Patients with asthma benefit from concomitant therapy with cineole. J Asthma. 2012; 49:849–853. doi: 10.3109/02770903.2012.717657. 

11. Fahy JV, Dickey BF. Airway mucus function and dysfunction. N Engl J Med. 2010; 363:2233–2247. doi: 10.1056/NEJMra0910061.

12. “Efficacy of cineole in patients suffering from acute bronchitis: a placebo-controlled double-blind trial” Juergen Fischer and Uwe Dethlefsen. Cough. 2013; 9: 25. doi: 10.1186/1745-9974-9-25

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3842692/ 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *